Việt Nam chi 5,5 tỷ USD nhập nguyên liệu TĂCN năm 2017

Việt Nam chi 5,5 tỷ USD nhập nguyên liệu TĂCN năm 2017

Tổng khối lượng nguyên liệu TĂCN nhập khẩu năm 2017 đạt khoảng 18,1 triệu tấn, tương đương 5,5 tỷ USD giảm 7,7% so với năm 2016
Sản lượng TĂCN tăng 2-3% so với 2016
 
Theo Cục chăn nuôi, hiện tại nước ta có 218 cơ sở sản xuất TĂCN công nghiệp, với tổng công suất thiết kế trên 31 triệu tấn, cao hơn nhu cầu TĂCN công nghiệp năm 2020 (25 triệu tấn). Giảm lượng TĂCN gia súc, gia cầm công nghiệp trong năm 2017 ước tăng từ 2-3%  so với cùng kỳ năm 2016 (năm 2016 sản lượng tăng 7,8% so với năm 2015).

Ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài

 
Lượng thức ăn này đáp ứng được nhu cầu cơ bản thức ăn chăn nuôi công nghiệp cho hoạt động chăn nuôi trong nước và một phần phục vụ hoạt động xuất khẩu sang một số thị trường.
 
Tình hình nhập khẩu nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi, theo số liệu báo cáo của các đơn vị kiểm tra thức ăn chăn nuôi nhập khẩu ước tính năm 2017, tổng khối lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu khoảng 18,1 triệu tấn, tương đương 5,5 tỷ USD giảm 7,7% so với năm 2016 (19,5 triệu tấn, tương đương với 5,8 tỷ USD). Trong đó, thức ăn giàu đạm khoảng 7,2 triệu tấn; thức ăn chăn nuôi giàu năng lượng khoảng 10, 4 triệu tấn; thức ăn bổ sung khoảng 500 ngàn tấn.
 
Về thị trường giá nguyên liệu và sản phẩm TĂCN
 
Trong năm 2017, giá bình quân nguyên liệu và một số TĂCN thành phẩm giảm so với năm 2016, ngoại trừ một số mặt hàng như sắn lát và lysin có giá tăng lên. Cụ thể, ngô hạt 4.960 đồng/kg (giảm 2,8%), khô dầu đậu tương 9.143 đồng/kg (giảm 7,8%), bột cá 23.780 đồng/kg (giảm 5,5%), cám gạo 5.083 đồng/kg (giảm 12,8%), sắn lát 3.277 đồng/kg; lysine 22.969 đồng/g tăng 12%; methonine 58.403 đồng/kg (giảm 22,8%).
 
Bình quân giá thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gà thịt là 9.426 đồng/kg (giảm 6,7%) và giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt giai đoạn từ 60kg đến xuất chuồng là 8.720 đồng/kg (giảm 5,8%)
 
Về xuất khẩu sản phẩm thức ăn chăn nuôi: Xuất khẩu 278,2 ngàn tấn nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi giá trị kim ngạch đạt 106,48 triệu USD.
 
Xuất nhập khẩu một số sản phẩm chăn nuôi
 
Theo số liệu của Tổng cục hải quan, 11 tháng đầu năm 2017, tình hình nhập khẩu một số loại sản phẩm chăn nuôi cụ thể như sau:
 
1.711 con lợn giống, kim ngạch gần 1, 89 triệu USD (tương ứng giảm 78,0% về lượng và 87,2% giá trị về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016) (lượng lợn giống nhập khẩu nhiều nhất là từ Pháp, chiếm tới 46,5%); lượng thịt lợn đã nhập khẩu là 6 ngàn tấn, kim ngạch đạt xấp xỉ 10,15 triệu USD, kim ngạch đạt xấp xỉ 10,15 triệu USD (tương đương giảm 35,5% về lượng và 24,2% về giá trị khẩu về giá trị kim ngạch so với năm 2016.
 
Tổng sản phẩm gia cầm nhập khẩu là 2.172.839 con, kim ngạch nhập khẩu gần 9,16 triệu USD (tương ứng tăng 5,3% về lượng và 1,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016; tổng lượng thịt gà nhập khẩu vào Việt Nam là 74.638 tấn, kim ngạch đạt 69,4 triệu USD (tương đương giảm 33,2% về lượng và 11,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016).
 
Các sản phẩm thịt khác có: 240.461 con trâu, bò sống được nhập vào Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu trên 269,9 triệu USD (tương ứng giảm 19,6% về lượng và 13,2% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016. Ngoài ra, khối lượng nhập khẩu các loại thịt khác đạt trên 41,46 ngàn tấn (chủ yếu là thịt trâu bò có xương), kim ngạch nhập khẩu ước đạt 145,78 triệu tấn.
 
Như vậy, uớc tính trong năm 2017, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 1.866 con lợn giống (giá trị nhập khẩu đạt 2,06 triệu USD), 6.544 tấn thịt lợn các loại (giá trị nhập khẩu gần 11,07 triệu USD), hơn 2,37 triệu con gia cầm giống (giá trị khoảng 10 triệu USD), hơn 81,4 ngàn tấn thịt gia cầm (giá trị nhập khẩu lên tới 75,7 triệu USD) và 262.321 con trâu bò sống (giá trị nhập khẩu là 294,45 triệu USD).
 
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, 11 tháng đầu năm 2017, sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu đều giảm mạnh cả về số lượng và kim ngạch, duy nhất có sản phẩm sữa tươi giảm về sản lượng nhưng lại tăng về giá trị kim ngạch, cụ thể:
 
Thịt lợn sữa đông lạnh: gần 19.475,1 tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 78,38 triệu USD (tương ứng giảm 54% về lượng và 22,7% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016).
 
Trứng vịt muối: gần 17,69 triệu quả, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,52 triệu USD (giảm 41,25% về lượng và 31,84% về giá trị kim ngạch so với cùng kỳ năm 2016).
 
Mật ong: trên 41.412,5 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 69,6 triệu USD (tương ứng với giảm 27,15% về lượng và 20,5% về giá trị kim ngạch cho với với cùng kỳ năm 2016.

Xuất khẩu mật ong giảm mạnh mạnh cả về số lượng và kim ngạch
 
Sữa tươi tiệt trùng: trên 10,8 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị khoảng 26,2 triệu USD (tương ứng giảm 2,45% về lượng nhưng tăng 53,16% về giá trị kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm 2016).
 
Xuất khẩu nguyên liệu và TĂCN: Ước tính cả nước đã xuất khẩu được 50,93 triệu USD nguyên liệu TĂCN và thức ăn công nghiệp sang thị trường một số nước ASEAN và khu vực châu Á…
 

Ước tính trong năm 2017, Việt Nam đã xuất khẩu gần 40,72  ngàn tấn thịt lợn sữa, ước đạt 163,87 triệu USD; gần 22,6 ngàn tấn sữa tươi và các sản phẩm từ sữa (giá trị kim ngạch đạt 54,8 triệu USD), gần 37 triệu quả trứng vịt muối (giá trị kim ngạch đạt 5,27 triệu USD); 86,6 ngàn tấn mật ong (giá trị kim ngạch đạt 144,46 triệu USD) và hơn 278,2 ngàn tấn nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi (giá trị kim ngạch đạt 106,48 triệu USD).

Nguồn: Tạp chí chăn nuôi Việt Nam

 

Newsleter

Video

Chứng nhận - Giải thưởng

Thời tiết - tỷ giá

Thống kê truy cập

Đối tác